“Nữa đi mẹ!” Edwin – đứa con trai bốn tuổi của tôi thường la lên như vậy mỗi khi cu cậu phát hiện ra trò gì vui hoặc một câu nói đùa khiến con thích thú. Charlie – đứa nhỏ 16 tháng tuổi, lại thích lặp đi lặp lại việc ném đồ vật từ trên chiếc ghế cao của nó xuống sàn, hoặc ném vào tường nếu việc đó tạo ra những âm thanh thú vị. Cả hai đứa đều thích nghe những câu chuyện quen thuộc vào mỗi tối trước khi đi ngủ, chúng thích ăn hoài một vài món ăn, chúng cũng thích chơi mãi vài món đồ chơi và xem suốt một vài bộ phim. Cứ hễ tìm được việc mình thích, chúng lại muốn làm đi làm lại mãi không thôi.

Tại sao bọn trẻ con lại thích sự lặp đi lặp lại đến như vậy? Là bởi việc ưu tiên cho những thứ quen thuộc đã được hình thành rất sớm ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Sự ưu tiên này thậm chí đã bắt đầu từ trước khi một em bé chào đời – chính là ở tam cá nguyệt thứ ba của thai kì. Tại thời điểm này, bào thai đã có thể nếm, ngửi, nghe, và kết quả là chúng bắt đầu nhận biết và hình thành những “ưu ái” đầu tiên cho những mùi vị quen thuộc từ thức ăn của mẹ trong môi trường nước ối quanh chúng (Schaal, Marlier, & Soussignan, 2000; Menella, Jagnow, & Beauchamp, 2001). Chúng cũng dành sự ưu tiên cho những âm thanh được nghe nhiều nhất như giọng nói của mẹ (Kisilvesky et al., 2003), ngôn ngữ mẹ đẻ (Moon, Cooper, & Fifer, 1993), hay thậm chí những câu chuyện mà chúng được đọc cho nghe từ trong bụng mẹ (DeCasper & Spence, 1986).

Xu hướng này tiếp tục phát triển sau khi em bé được sinh ra. Chỉ sau vài giờ gặp mẹ, trẻ sơ sinh đã nhanh chóng dành sự ưu tiên cho gương mặt của mẹ (Field, Cohen, Garcia, & Greenberg, 1984). Không lâu sau đó, chúng sẽ hình thành ưu tiên cho những khuôn mặt chúng hay gặp nói chung (Johnson & Morton, 1991), tất cả đều dựa trên nền tảng của sự lặp lại hay tiếp xúc liên tục. Sự ưu tiên cho những điều quen thuộc này có tính thích nghi – tạo ra ở trẻ một niềm yêu thích cho những ai thường xuyên chăm sóc chúng.

Có lẽ vì vậy nên trẻ cứ thích đọc đi đọc lại một vài cuốn sách, xem đi xem lại vài bộ phim, và hát đi hát lại vài bài hát, mỗi ngày. Trên thực tế, có bằng chứng cho rằng việc lặp đi lặp lại này ở trẻ nhỏ có thể hỗ trợ chúng trong việc học hỏi những điều mới.

Không ngạc nhiên khi đã có nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ con học được nhiều hơn từ việc đọc đi đọc lại một cuốn sách so với chỉ đọc qua 1 2 lần. Trong một cuộc nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã thử giới thiệu cho những em bé 3 tuổi ba câu chuyện mà từ vựng trong đó đều mới với chúng trong vòng một tuần lễ.

Những từ vựng này đều hoàn toàn mới với tất cả các trẻ tham gia nghiên cứu, nhưng một nửa số trẻ được giới thiệu từ mới bằng cách đọc đi đọc lại duy nhất một câu chuyện, trong khi những trẻ còn lại được giới thiệu từ mới thông qua ba câu chuyện khác nhau. Kết quả là bọn trẻ học từ vựng tốt hơn khi được nghe một câu chuyện lặp đi lặp lại so với khi chúng nghe cùng những từ vựng ấy được giới thiệu qua ba câu chuyện khác nhau (Horst, Parsons, & Bryan, 2011).

Trẻ sơ sinh cũng có xu hướng như vậy. Trong một nghiên cứu tương tự, các nhà nghiên cứu đã giới thiệu một cuốn sách tranh cho các em bé từ 18-24 tháng tuổi, vừa kể họ vừa làm những động tác mô phỏng nhất định và lắc lắc cái lục lạc. Họ đọc sách cho bé nghe từ 2 – 4 lần và phát hiện ra rằng càng được nghe nhiều, bé càng nhanh chóng bắt chước được những hành động mà người kể chuyện thực hiện trong khi đọc sách (Simcock & DeLoache, 2008). Những hành động lặp đi lặp lại trên TV mà bé vô tình thấy được cũng dẫn đến việc bé bắt chước chúng thường xuyên hơn (Barr, Muentener, Garcia, Fujimoto, & Chavez, 2007).

Có câu “Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giỏi”. Và khoa học đã thật sự chứng minh được điều này, đặc biệt là ở trẻ nhỏ. Trên thực tế, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc lặp đi lặp lại thực sự cần thiết cho việc học nói chung (e.g., Karpicke & Roediger, 2008)— đặc biệt là cho việc ghi nhớ (Hintzman, 1976) và học ngôn ngữ (Schwab & Lew-Williams, 2016).

Vậy nên trong khi như người lớn có thể dễ dàng phân tách và xử lí thông tin ngay khi tiếp xúc với chúng, bọn trẻ con lại đòi xem đi xem lại một bộ phim mà chúng đã xem cả trăm lần hoặc yêu cầu được nghe đi nghe lại một câu chuyện trước khi đi ngủ trong mười ngày liên tục. Có thể đó chỉ là cách mà chúng học về mạch chuyện mà thôi. Và mặc dù việc bọn trẻ cứ làm đi làm lại (và làm đi làm lại) một điều gì đó đôi khi gây nhàm chán và phiền nhiễu, nhưng hãy tin đó là việc chúng cần làm để học hỏi những điều mới.

Tài liệu tham khảo:

– Barr, R., Muentener, P., Garcia, A., Fujimoto, M., & Chávez, V. (2007). The effect of repetition on imitation from television during infancy. Developmental Psychobiology, 49(2), 196-207.

– DeCasper, A. J., & Spence, M. J. (1986). Prenatal maternal speech influences newborns’ perception of speech sounds. Infant Behavior and Development, 9, 133-150.

– Field, T. M., Cohen, D., Garcia, R., & Greenberg, R. (1984). Mother-stranger face discrimination by the newborn. Infant Behavior and development, 7(1), 19-25.

– Hintzman, D. L. (1976). Repetition and memory. In Psychology of learning and motivation (Vol. 10, pp. 47-91). Academic Press.

– Horst, J. S., Parsons, K. L., & Bryan, N. M. (2011). Get the story straight: Contextual repetition promotes word learning from storybooks. Frontiers in Psychology, 2, 17.

– Johnson, M. H., & Morton, J. (1991). Biology and cognitive development: The case of face recognition. Oxford, England: Basil Blackwell.

– Karpicke, J. D., & Roediger, H. L. (2008). The critical importance of retrieval for learning. Science, 319(5865), 966-968.

– Kisilevsky, B. S., Hains, S. M. J., Lee. K., Xie, X., Huang, H., Ye, H. H., Zhang, K., & Wang, Z. (2003). Effects of experience on voice recognition. Psychological Science, 14, 220-224.

– Mennella, J. A., Jagnow, C. P., & Beauchamp, G. K. (2001). Prenatal and postnatal flavor learning by human infants. Pediatrics, 107(6), E88.

– Moon, C., Cooper, R. P., & Fifer, W. P. (1993). Two-day-olds prefer their native language. Infant behavior and development, 16, 495-500.

– Schaal, B., Marlier, L., & Soussignan, R. (2000). Human fetuses learn odours from their pregnant mother’s diet. Chemical Senses, 25, 729-737.

– Schwab, J. F., & Lew-Williams, C. (2016). Repetition across successive sentences facilitates young children’s word learning. Developmental Psychology, 52(6), 879-886.

– Simcock, G., & DeLoache, J. S. (2008). The effect of repetition on infants’ imitation from picture books varying in iconicity. Infancy, 13(6), 687-697.

—–

Onion dịch từ bài viết Why Children Like Repetition, and How It Helps Them Learn của tiến sĩ Vanessa LoBue – nhà nghiên cứu trẻ em.

—–

𝑃ℎ𝑜𝑡𝑜 𝑏𝑦 𝑅𝑜𝑏𝑒𝑟𝑡 𝐶𝑜𝑙𝑙𝑖𝑛𝑠 𝑜𝑛 𝑈𝑛𝑠𝑝𝑙𝑎𝑠ℎ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *